Trường hợp không được ủy quyền quyết toán thuế TNCN là vấn đề pháp lý quan trọng mà người nộp thuế cần nắm rõ để tránh vi phạm quy định. Việc ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân mang lại sự tiện lợi nhưng không phải lúc nào cũng được phép. Hiểu đúng các trường hợp bị hạn chế giúp cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế đúng luật và giảm rủi ro bị xử phạt. Cùng ACC Khánh Hòa tìm hiểu chi tiết để bảo vệ quyền lợi của mình.

1. Các trường hợp không được ủy quyền quyết toán thuế TNCN mới
Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, cá nhân chỉ được ủy quyền khi đáp ứng điều kiện về nguồn thu nhập, hợp đồng lao động và tình trạng làm việc tại thời điểm quyết toán. Vì vậy, cá nhân không được ủy quyền nếu không thuộc các trường hợp được phép ủy quyền hoặc thuộc trường hợp phải tự quyết toán theo quy định. Đặc biệt, cá nhân có đề nghị giảm thuế do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo hoặc có các khoản giảm trừ theo Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP và yêu cầu tính giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế thì phải tự quyết toán.
Ngoài ra, trường hợp cá nhân có nhiều nguồn thu nhập nhưng không đáp ứng điều kiện ủy quyền cũng phải trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế. Việc có thêm thu nhập ở nơi khác không phải lúc nào cũng làm mất quyền ủy quyền; nếu khoản thu nhập này thuộc trường hợp đã khấu trừ 10% và bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng thì vẫn có thể ủy quyền nếu đồng thời đáp ứng các điều kiện còn lại.
2. Phân tích chi tiết các quy định hạn chế ủy quyền
Căn cứ Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, cá nhân được ủy quyền khi chỉ có một nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một tổ chức và thực tế đang làm việc tại tổ chức đó vào thời điểm quyết toán. Quy định này vẫn áp dụng kể cả trường hợp người lao động không làm đủ 12 tháng trong năm.
Trường hợp có thêm thu nhập ở nơi khác, cá nhân vẫn có thể ủy quyền nếu nguồn thu nhập chính đáp ứng điều kiện nêu trên và khoản thu nhập khác đã được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% theo quy định. Ngược lại, nếu không đáp ứng các điều kiện này thì cá nhân phải tự quyết toán để tổng hợp đầy đủ các khoản thu nhập và số thuế đã khấu trừ.
Đặc biệt, nếu cá nhân có nhu cầu áp dụng các khoản giảm trừ thuộc Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP hoặc đề nghị giảm thuế theo Điều 40 mà yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế thì không được ủy quyền, mà phải trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế. Các quy định này được hướng dẫn thêm tại Thông tư 87/2026/TT-BTC, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.
Xem thêm: Nộp quyết toán thuế TNDN gồm những gì? Chi tiết
3. Hậu quả khi vi phạm quy định ủy quyền
Việc xác định sai điều kiện ủy quyền có thể khiến hồ sơ quyết toán không phản ánh đầy đủ nghĩa vụ thuế của cá nhân. Khi phát hiện sai sót, cá nhân có thể phải thực hiện quyết toán trực tiếp, khai bổ sung và nộp thêm số thuế còn thiếu cùng tiền chậm nộp nếu phát sinh nghĩa vụ.
Do đó, trước khi ký giấy ủy quyền, cá nhân cần đối chiếu nguồn thu nhập, loại hợp đồng lao động, tình trạng làm việc tại thời điểm quyết toán và các khoản giảm trừ có yêu cầu áp dụng. Không nên chỉ căn cứ vào việc có một hay nhiều nơi trả thu nhập để kết luận mình có được ủy quyền hay không.
Xem thêm: Thủ tục quyết toán thuế khi chia tách doanh nghiệp mới
4. Cách kiểm tra điều kiện ủy quyền theo quy định mới
Bước 1: Tổng hợp thu nhập trong năm
Cá nhân rà soát các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh trong năm, xác định nơi trả thu nhập và hình thức khấu trừ thuế. Việc này giúp xác định có đáp ứng điều kiện về nguồn thu nhập theo Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP hay không.
Bước 2: Đối chiếu điều kiện được ủy quyền
Kiểm tra xem có một nguồn thu nhập từ hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một tổ chức và đang làm việc tại đó vào thời điểm quyết toán hay không. Nếu có thêm nguồn thu nhập khác, cần xác định khoản thu nhập đó có thuộc trường hợp đã khấu trừ 10% theo quy định hay không.
Bước 3: Kiểm tra các khoản giảm trừ và trường hợp phải tự quyết toán
Cá nhân cần xác định mình có đề nghị giảm thuế hoặc yêu cầu áp dụng các khoản giảm trừ theo Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP hay không. Nếu thuộc trường hợp này và có yêu cầu thực hiện giảm trừ trước khi tính thuế thì phải tự quyết toán, không thực hiện ủy quyền.
5. Câu hỏi thường gặp
Cá nhân có thu nhập từ hai nơi có được ủy quyền không?
Có thể, nhưng không phải mọi trường hợp đều được. Nếu cá nhân có một nguồn thu nhập chính theo hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên, đang làm việc tại tổ chức đó khi quyết toán và khoản thu nhập khác đã được khấu trừ 10% theo điều kiện của Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP thì vẫn được ủy quyền.
Trường hợp nào liên quan đến yếu tố nước ngoài bị cấm ủy quyền?
Không có quy định chung rằng cứ có yếu tố nước ngoài hoặc thu nhập từ nước ngoài là đương nhiên bị cấm ủy quyền. Cá nhân cần đối chiếu điều kiện ủy quyền tại Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP và xác định có thuộc trường hợp phải tự quyết toán hay không.
Vi phạm quy định ủy quyền bị xử lý như thế nào?
Nếu ủy quyền không đúng điều kiện dẫn đến khai sai hoặc thiếu nghĩa vụ thuế, cá nhân phải thực hiện điều chỉnh, quyết toán lại và nộp số thuế còn thiếu, tiền chậm nộp hoặc chịu xử lý vi phạm nếu có hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
Trường hợp không được ủy quyền quyết toán thuế TNCN cần được xác định theo đúng điều kiện tại Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, thay vì áp dụng máy móc theo số lượng nguồn thu nhập. Việc đối chiếu đúng quy định giúp cá nhân lựa chọn hình thức quyết toán phù hợp và hạn chế sai sót. Để được hỗ trợ chi tiết và giải đáp thắc mắc, hãy liên hệ ACC Khánh Hòa ngay hôm nay để được tư vấn chuyên nghiệp và kịp thời.
Để lại một bình luận